LỊCH
SỬ MÔN NGŨ CẦM HÍ
( CLICK
VÀO ĐÂY XEM CÁCH TẬP BẰNG VIDEO )
Phần 1
-
Phần 2
Dĩ nhiên Học giả đoán được là Lịch sử môn học bắt nguồn từ Đạo Gia, tức khởi từ
học thuyết Lão Trang do Lão Tử làm Tổ Sư. Người xưa tin như vậy, nên sách xưa
chép như vậy, trong sách của Trang Tử... Đó là nguồn gốc cổ xưa. Nhưng gần hơn,
thời hậu Hán Thần Y Hoa Đà chế biến lại, đặt thành thế thức hẳn hòi và truyền bá
rộng rãi, với dụng ý dưỡng sinh và trị bệnh. Sách "Hậu Hán Thư Phương Thuật" có
ghi đoạn Hoa Đà ĐÀ giảng giải với đồ đệ là Ngô Phổ về môn học này...
Và từ đó về sau, lưu đời, môn học càng được truyền rộng mãi mãi. Tuy thế vẫn có
nhiều bài Ngũ Cầm Hí khác nhau, đó chẳng qua là sự sai biệt chút ít về quan
niệm, có thể hiểu là tại tam sao thất bổn. Nhưng dù chủ quan như thế nào
đi nữa thì các hình tượng vẫn là động tác của hình 5 con vật gồm: Hùng
(gấu), Hạc (chim hạc), Hổ (cọp), Hầu (viên, con khỉ),
Lộc (nai).
Cách Tập Luyện
Ngũ Cầm Hí
Do sự kinh nghiệm riêng bổn thân, và của cổ nhơn, luyện Ngũ Cầm Hí phải thuần
hai điều:
I). Luyện theo Hình Ngũ Cầm, tức diễn tả các động tác giống như động tác của con
vật, phải hoàn toàn giống không gượng gạo.
II). Luyện Ý cho kịp Hình, tức tay chân buông duỗi thì Ý phải lỏng lơi, tay chân
co rút thì Ý cũng theo vào. Làm thành nhẹ, nặng, chậm chạp, lanh lẹ, uyển
chuyển, v.v... đều dùng Ý theo Hình.
- Sau cùng là hơi thở điều hợp với động tác cho nhịp nhàng, thời sự luyện tập đã
đạt được như ý rồi vậy.
Theo ý kiến nhiều hành gia, muốn tập cho mau tiến bộ, phải có dịp ngắm nhìn
những động tác của 5 con vật mà bài học đã nháy theo động tác của Nó, như vô Sở
Thú nhìn con coi Gấu đi, Cọp bước, Vượn giỡn, Nai chạy và Cò sống ngoài đồng
Những chỉ dẫn trên cũng hay, nhưng đối với nhiều học giả chắc chẳng có đủ thì
giờ và phương tiện ngồi ngắm thú cầm để mô phỏng động tác của nó. Vậy cứ theo
lời giảng của soạn giả mà linh hoạt tập luyện thì trong thời gian sẽ thuần thục.
Ý dẫn động tác, Khí theo động tác thu, phát, co rút hoặc buông lơi... thì đã
thành công hữu dụng.
Muốn được Hình dẫn Ý Khí kịp tới, hay nói cách khác Ý tới Hình tới Khí tới, thì
thân thể và tứ chi phải cực kỳ nhu nhuyển, linh hoạt. Muốn có thân thể như vậy
theo phương pháp của Tiên gia chỉ có cách tập Ngũ Cầm hí hoặc Thái Cực Quyền mới
có được.
Trên đây là tất cả bí quyết về cách luyện tập, Học giả đã rõ vậy có thể bắt đầu
thực hành được rồi đó. Cách luyện cũng theo nguyên tắc tiệm tiến học từ động tác
một của một Cầm; khi thuộc thuần một Cầm thì học tới Cầm kế, tuần tự hết 5 Cầm.
Khi đã làu thông Ngũ Cầm múa lên như thú giởi, kinh mạch thuần nhuận, khí huyết
lưu thông thì bệnh gì mà không tiêu trừ, thân nào mà không trường thọ. Người ta
sở dĩ chết yểu chỉ vì Kinh Mạch bế tắc mà ra, người ngu dốt làm biếng làm sao mà
không chết non được.
15 Điều Cần Nhớ
Khi Luyện Công
1. - Tùng tĩnh tự nhiên, tức khi luyện công thân thể và tứ chi để tự
nhiên mà linh hoạt, linh mẫn.
2. - Ý Khí hợp nhất, tức sự hô hấp tiến hành chậm chậm theo ý niệm, đều,
nhẹ sâu xa theo từng động tộc...
3. - Động tĩnh tương kiêm, Động chỉ ngoại động và động của Nội khí, Tĩnh
cũng gồm cả ngoại tĩnh tức thân tĩnh, và tinh thần cũng tĩnh, tâm tĩnh...
4. - Thượng hư hạ thực, từ rốn trở lên phải hư linh (nhẹ) từ rún trở
xuống trầm thực, chú ý tới Đan Điền, tức khí trầm Đan Điền.
5. - Tuần tự tiệm tiếng, từ từ mà tiến bộ không vọng tưởng ham nhanh.
6. - Thần Hình hợp nhất, phải làm từ Hình của động tác giống mà cả thần
thái cũng giống, với tính năng của Ngũ Cầm.
7. - Động tác viên hoạt, đa số động tác trong Ngũ Cầm Hí đều đi theo
đường cong, xoắn ốc, đường dợn sóng... đó là viên (tròn). Động tác Viên phải
liên tục dù bên ngoài hình đôi khi thấy dứt mà ý vẫn còn...
8. Miên man hàm xúc, tức tập chậm chạp, cho hô hấp nhẹ nhàng và dài hơi,
hàm xúc là làm đến độ từ bên ngoài nhìn vào chẳng thấy sức lực.
9. - Luyện tập thứ tự, chỉ luyện một hí của một cầm nào đó thôi, cho
thuần thuần mới luyện tới hí khác. Thường thì luyện Hùng hí trước, kế tới Hạc,
Lộc, Hổ, Viên. Nhưng luyện để trị bệnh luyện Hùng xong tới Hạc còn Lộc, Hổ, Hầu
hơi khó phải dành về sau.
10. - Phối hợp hô hấp với động tác, thở hít tự nhiên cho tới đạt được
vong tức tức quên thở.
11. - Tốc độ động tác và số lần luyện tập, mỗi động tác cần 8 giây. Về số
lần nếu chỉ luyện một Hí thì có thể luyện 3 - 5 lần. nếu luyện đủ 5 Hí chỉ cần
luyện qua một lần. Nhưng nếu người có sức khỏe có thể luyện vài ba lần, ngược
lại người quá bạc nhược chỉ luyện vài động tác cũng đủ. Như vậy mỗi sáng chỉ mất
độ 10 đến 30 phút để tập luyện.
12. - Khi luyện công phải làm tới "Tam Ổn", là Ổn khởi, Ổn luyện, Ổn thu,
Tức bắt đầu chậm chậm, rồi tập chậm đến hơi nhanh, khi muốn ngưng cũng từ từ
chậm lại rồi mới ngưng, đừng làm gấp.
13. - Không nên luyện công khi bụng đói quá hay no quá, mệt quá cũng như phấn
khởi quá, hoặc hoang mang quá cũng chớ nên luyện. Làm tiểu tiện xong mới
luyện, mặc đồ sạch sẽ, rộng rãi, luyện chỗ thoáng khí và đừng để ra mồ hôi quá
nhiều tránh chỗ gió lớn.
14. - Phải nghĩ chân chính, không nghĩ vơ vẩn khi luyện công, tức tập
trung ý chí vào động tác và khí lực khi luyện.
15. - Thường luyện, tức thường xuyên luyện tập không được bỏ dở, tâm phải
ham muốn lâu dài, và lòng tin tưởng phải sâu xa và chẳng ham gấp để rồi bỏ dở.
Luyện vào buổi sáng và tối là tốt nhất.
Hùng Hí
YẾU LĨNH: Hùng hậu, trầm ổn kỵ phiêu linh.
Tính của Gấu hùng hậu trầm ổn, bề ngoài trông nặng nề, khi bước đi yểu điệu như
không có xương, nhưng trong sự nằng nề hàm chứa khinh linh (nhẹ và linh hoạt).
Cho nên khi luyện phải thể hiện các đức tính đó.
THỨC DỰ BỊ: Đứng thẳng hai tay buông xuôi hai bên đùi, vai chỏ trầm, mắt nhìn
bằng tới trước như Hình I. Kế, chân trái bước sang hướng trái một bước khoảng
cách giữa hai bàn chân rộng bằng vai đứng thẳng nhưng hai gối hơi rùn một chút
(hơi hơi thôi), bàn tay mở rộng ra, hổ khẩu tròn, các ngón còn lại khít tự
nhiên, cất mũi bàn tay lên phía trước rồi từ từ xoay vào cho hai mũi bàn tay đối
nhau, đoạn hai tay nâng song chưởng lên ngang ngực. Dừng lại độ 6 giây, sau đó
hạ song chưởng xuống trước Đan Điền. Trong lúc răng miệng khít kín tự nhiên, mũi
thở bình thường (Hình 2-3-4-5). Tập lại 5 đến 7 lần từ hình 2-4 cho quen. Nhớ,
khi dẫn động song chưởng thì tinh thần nội thâu, tức chú đến động tác đang làm
không nghĩ hời hợt việc khác. Thức Dự Bị này dùng cho mọi Hí sẽ học trong Ngũ
Cầm Hí. Vận động đưa tay lên xuống như đè lên quả banh nhỏ trên mặt nước vậy.
1. - Hùng Bộ Thế
Chuẩn bị như hình 5, đầu hơi đưa tới trước, nhưng cầm hơi ngước lên, chân trái
đưa về sát chân phải đồng thời xoay về hướng trái 45 độ, bàn chân trái chạm mũi
bàn chan xuống đất gót nhó, cả hai chân co nhẹ nơi gối, song chưởng thu lại
thành Quyền hư (nắm nhẹ không vận sức) thở ra như hình 6. Kế chân trái bước tới
hướng trước một bước ngắn (nửa bước thường) hít hơi vào, chân phải đưa lên nhón
gót sau chân trái một chút như hình 7-8. Thở ra. Kế hít hơi vào đoạn chân phải
bước lên... như hình 7-8 nhưng đổi chân. Khi dừng thì thở ra. Trên là luyện đùi
và chân, chú trọng khí lực ở chân "căn khí" nên bước tới phải từ từ cực chậm
chạp mà uyển chuyển mới đúng.
2. - Cảm Vận Thế
... tiếp thức trên. Hai tay, hông, xương thắt lưng (hông), hai chỏ, hai gối, hai
mắt cá, theo vai phải xoay nhẹ theo đường trôn ốc từ trái sang phải 5 lần. Khi
dẫn động thả lỏng mọi khớp xương cho toàn thân rung rinh... Kế chân trái bước
tới nửa bước, chân phải bước theo đặt sau (thật từ từ), rồi vai trái dẫn động
theo đường xoắn ốc cho thân thể cùng xoay theo đường đối nghịch với vẫn động vừa
tập 5 lần. Mỗi lần làm xong thì thở ra, đoạn hít vào mới làm tiếp động tác khác.
Nghĩa là vai trái dẫn động thở hít một lần, vai phải, cũng thở hít một lần. Hình
9-11, Động tác này cho sinh hoạt mọi khớp xương trong châu thân. Nhớ chẳng nên
co gối quá thấp và chỉ nên rung động nhẹ nhàng mà thôi.
3. - Án Vận Thế
... tiếp thức trên. Song quyền mở ra thành Song chưởng, các ngón để rời, đầu
ngón hơi bấu xuống, co co bấu bấu đồng thời hơi đưa tới trước và hơi đè xuống
(án vận), các ngón chân cũng bấu xuống co duỗi nhẹ như các móng con gấu bấu bấu
trên mặt đất vậy, hoặc con mèo co rút các móng chân của nó. Khởi đầu động tác
thì hít vào, bây giờ, sau khi co co 5 lần Án vận thì thở ra. Kế chân trái bước
tới trước hướng trái một bước co gối trước xuống chân sau thẳng, tựa sức xuống
gối trước từ từ và Án vận bàn tay 5 lần, đồng thời mũi hít vào, chân phải lên
gần bàn chân trái, thở ra, bàn tay án vận 5 lần. Đoạn chân phải bước tới hít
vào. Án vận... tập 5 lần. Tức án vận tả hữu mỗi bên 5 lần tức 10 lần vừa đứng
vừa bước. Hình 12-14.
4. - Kháng Kháo Thế
... tiếp theo thức trước. Song chưởng từ từ thu lại thành song quyền, rồi co cổ
tay ra sau cho đầu quyền về hướng sau đoạn co tới trước, làm từ từ cũng là thế
Cảm vận thế nhưng quyền chớ không phải chưởng Hình 15. thở ra, sau khi làm đủ 5
lần. Chân trái bước tới hướng trái một bước, hai cổ tay xoay từ ngoài vào theo
đường xoắn, từ ngoài vào trong, lực đặt trên cổ tay cánh tay phải và hướng về
phía sau. Làm 5 lần, hít hơi, chân phải bước lên sau chân trái, thân trên hơi
quay sang phải. Hình 16-17.
Đoạn tiếp theo chân phải bước tới... làm hữu thức. Tức tập mỗi bên cho đều số
lần với nhau. Điều quan trọng ở đây, chân rùn bước từ từ, co xoay cổ tay. Dĩ
nhiên vai trầm chỏ hạ thấp.
5. - Thôi Tệ Thế
... tiếp thức trên. Song hư quyền từ từ cất lên, quyền trái phía trước quyền
phải phía sau, cao ngang vai, chỏ co hạ trầm vai, dùng sức cổ tay xoay cổ tay ra
phía ngoài (ngoại triền) rồi lại xoay vào trong, làm 5 lần, cổ tay hơi co thâu
vào. Chân trái bước tới trước một bước, co chân ,co ngực, thóp bụng, sức phát từ
Đan điền. hít hơi vào. Hai cổ tay lay động xoay 5 lần thì chân phải bước tới bên
chân trái, thân thể hơi quay sang phải, biến thành quyền phải trước, trái sau,
thở ra. Hình 18-21.
Đoạn chân phải bước tới... tập lại từ đầu như trên gọi là hữu thức.
6. Thâu Thức
Thu chân tay, trở về thế chuẩn bị ban đầu, làm động tác Hô hấp. Mọi Hí khác khi
tập xong đến chỗ thu thức cũng làm như Hùng Hí này nên khỏi nói nữa.
Chú Ý: Phép chuyển thân xoay hướng đều dụng hông chẳng dụng thân, tức bộ từ hông
xuống xoay mà thôi. Mọi thức khác cũng thế. Vậy khi luyện tập nên gia tâm để ý
mà thực hành cho đúng. Nhớ là động tác cực kỳ chậm chạp, nặng nề trong sự hư
linh, hoạt bát. Có được như vậy mới đúng tinh thần Hùng Hí.
Hạc Hí
YẾU LĨNH: Khinh thường an tĩnh, kỵ trọng trệ.
Hạc là loài bay lượn giỏi, khi đứng thì hiên ngang như cây tùng. Luyện Hạc Hí
phải giống như vậy. Hí này phải tập đến tự nhiên (mũi hít, miệng thở hoặc cả hai
cùng hít cùng thở). Ý thủ ở huyệt Khí hải, Hí này có thể khai thông Kinh Lạc.
Khí hải là huyệt quan trọng, chủ trị chân khí bất túc, gầy ốm mệt mỏi, kinh
nguyệt không đều, Vũ gia gọi là Hạ đơn điền. Sau khi luyện Hạc Hí có căn bản có
thể kết hợp sự hô hấp vận khí từ Khí hải đến huyệt Đàn Trung, khi thở ra thì khí
tức từ Đàn trung lui về Khí hải. Một hô một hấp, thăng giảm. Thông thường thì
thở ra tự nhiên khí dồn xuống Đan Điền tránh khí tức vọng lên quá cao. Thức
Lương dực thế dùng trị bịnh rất thích nghi. (xem thêm Điểm Huyệt Thiếu Lâm Tự
cùng tác giả để nhận định rõ vị trí các Huyệt trong châu thân. Môn sinh Hàm Thụ
dĩ nhiên đã hoặc sẽ học Điểm Huyệt do đó rất thông bát về Huyệt Đạo, tưởng chẳng
cần nói nhiều).
1. - Hạc Bộ Thế
Làm xong thế chuẩn bị, chân trái co về sát bàn chân phải, đoạn xoay qua hướng
trái, hít hơi vào (Hình 22-23), chân trái buớc lên hướng trái nửa bước, mũi bàn
chân trái chấm đất, chân nhón thẳng, chỏ hơi co, cỗ tay xoay từ trong ra ngoài,
chưởng tâm hướng tới trước, các ngón mở ra nhưng không mở thẳng, thở ra; kế
buông chỏ tự nhiên, hạ gót chân sau bước lên sát chân trước đứng tự nhiên như
Hình 24-25.
Kế, chân phải bước tới trước nhón gót, hít vào, xoay bàn tay ra... tập lại như
thức vừa học trên nhưng chân phải lên gọi là Hữu thức... Mắt luôn luôn nhìn bằng
tới trước.
2. - Lượng Dực Thế
... tiếp theo thức trên. hít hơi vào, song chưởng đưa tréo trước bụng, chân trái
bước lên nửa bước đứng thẳng trong lúc chân sau co lên trọng lượng thên thể dồn
ở chân trước, song chưởng đồng thời đưa vòng từ dưới lên như chim Hạc cất cánh,
lòng chưởng chiếu xuống đất, lưng chưởng cao ngang đầu (tay đưa hình dợn sóng).
Chân phải bước lên sát chân trái, hạ song chưởng xuống tréo nhau trước bụng, thở
ra (Hình 26-29).
Kế, chân phân bước lên tập lại như thức đã tập gọi là Hữu thức.
3. - Độc Lập Thế
... tiếp theo hình 2. Hít hơi vào, song chưỏng đưa lên hai bên, cao ngang đầu,
đồng thời gối trái co lên, bàn chân duỗi thẳng, chân phải đứng thẳng như hình
30-31. Dừng lại 8 giây đồng hồ, kế đặt chân trái xuống trước, hướng trái, chân
phải bước tới sát chân trái, song chưởng hạ xuống tréo nhau trước Đan điền, thở
ra. Hình 32.
Kế, hít hơi vào, chân phải co lên, song chưởng đưa lên... như thức đã tập trên
gọi là Hữu thức.
4. - Lạc Nhạn Thế
... tiếp theo thức 3. Hít hơi vào, chân trái bước qua gối phải, rồi toạ xuống
như hình 33-34, song chưởng đưa vòng lên hai bên cao ngang đầu, nhưng ngang đầu
xong hạ xuống ngang vai, kế, hạ chỏ cho cánh tay hình sóng, mắt quay nhìn qua
trái về phía sau. Tiếp theo đứng lên, hai tay hạ xuống tréo nhau trước bụng
dưới, thở ra, chân phải bước tới sát bên chân trái. Hình 35.
Kế, chân phải bước qua khỏi chân trái, toạ xuống tréo chân, hai tay đưa tréo
lên, hít vào... như động tác vừa học trên gọi là Lạc Nhạn Hữu thế. Quan trọng
chỗ hít vào, đưa tay lên, trụy chỏ xuống, nhịp nhàng và dịu dàng.
5. - Phi Tường Thế
... tiếp theo thức 4. Hít hơi vào, chân trái bước tới hướng trái nửa bước, chân
phải đưa thẳng về sau, duỗi thẳng bàn chân cho mũi bàn chân chỉ thẳng xuống đất,
thân đổ nghiêng tới trươc, song chưởng đưa tréo lên, chưởng phải xiên tới trước
45 độ cao ngang đầu, chưởng sau hướng 45 độ về sau cao ngang hông, hai cánh tay
thành đường thẳng xiên như hình 36-37. Đứng thẳng người dậy, hạ chân sau tới sát
chân trước, song chưởng hạ xuống tréo nhau trước Đan điền, đồng thời Thở ra.
Hình 38.
Kế, chân phải bước tới nửa bước, chân trái đưa ra sau, hai tay dang ra như cánh
nhạn bay qua tường... tập giống ý thức vừa học, gọi là Hữu thức.
LƯU Ý: Tập tuần tự từ động tác 1-5 rồi trở lại, mỗi lần bước tới là hít, hạ chân
xuống là thở. Tùy sức tập từ 1-5 Hí.
Lộc Hí
YẾU LĨNH: Thư triển ngân dương, kỵ không tự nhiên.
Nai là loài có thân thể tự nhiên, nên luyện Lộc Hí phải để thân tự nhiên, tâm
tùng đều tĩnh. Luyện Lộc Hí thở từ khe răng mà hít vào tức cần hai hầm răng khít
nhau mở môi hít vào, và thở ra cũng qua kẻ răng nghe tiếng gió xì. Hí Lộc chủ
luyện lặc (gân). Cổ nhân cho Nai là loại vật hiền chạy giỏi, gân mạch rất tốt,
giỏi vận dụng Vĩ lư (xương đuôi) cho nên tập Lộc Hí cho giao hòa hai kinh Nhâm
Đốc, giúp thân vô bệnh trường thọ.
1. - Lộc Bộ Thế
Làm xong thức chuẩn bị trở về đứng như hình 39. Hít hơi vào qua kẻ răng, đưa
chân trái qua sát chân phải rồi chuyển chân bước sang trái nửa bước, song chưởng
theo chân án bằng chưởng tâm xuống, chỏ hơi co về sau, gót chân trái chạm đất
trước, rồi từ từ trong vài giây mới hạ từ từ gang bàn chân mới đến mũi bàn chân
chấm đất, mắt nhìn bằng tới trước. Hình 40-41, thở ra theo bước chân hạ xuống từ
từ. Kế hít hơi vào, cất mũi bàn chân lên từ từ xong hạ xuống thở ra, chân sau
bước lên sát chân trước như hình 42-43-44.
Kế, thở ra, chân phải bước lên, gót chạm đất rồi từ từ hạ mũi bàn chân xuống,
lại cắt mũi bàn chân lên hạ xuống một lần nữa, lực dồn lên chân trước, hai
chưởng ấn bằng xuống, mũi chưởng hướng tới trước... là Hữu thức.
Điều quan trọng là làm từ từ động tác cất mũi bàn chân và hạ xuống trọng lực dồn
quán tới cổ chân, miệng thở hít qua khe răng phát tiếng xì xì...
2. - Đình Thân Thế
... tiếp thức trên. Hít hơi vào, hai đầu gối hơi co, chân trái bước tới trước
một bước dài co gối trước xuống thành Cung tiên tấn (làm chậm) cổ tay co lại mũi
chưởng hướng về sau, rồi từ từ bật tới trước chỏ hơi co, thân trên hơi chồm tới
trước. Chân sau bước lên sát chân trái trước để chưởng trở lại như lúc ban đầu,
thở ra. Hình 45-48.
Kế, chân phải bước tới trước thành Cung tiên bộ, hít hơi vào, bật cổ tay lên
xuống... rồi chân trái bước lên sát chân phải, thở ra, là Hữu thức.
Quan trọng là bước lên chân trụ chặt xuống mặt đất mà sức trụ phải từ nhẹ đến
nặng dần, tay bật chưởng lên xuống cũng chậm theo lực nơi chân.
3. - Thám Thân Thế
... tiếp theo thức 2. Cổ tay co về sau như hình 49. hít hơi vào từ từ, chân trái
bước tới thành Cung tiên bộ, song chưởng cất lên, hai tay tới song song cao
ngang vai, chân phải bước tới sát chân trái, song chưởng hạ xuống và thở ra như
hình 50-51.
Kế chân phải bước tới, hít hơi, cất tay lên... làm lại từ hình 49 đến hình 51,
gọi là Hữu thức. Quan trọng là vận động hai tay và chân bước tới nhịp nhàng với
hơi thở ra cũng như hít vào.
4. - Hồi Đầu Thế
... tiếp theo thức 3. Hít hơi vào, chân trái bước tới thành Cung tiên bộ, song
chưởng đồng cất lên như Thám thân thế, ngưng vài giây, tay phải co chỏ, hạ
chưởng phải xuống kế hông phải, đầu quay nhìn về phía dưới mông (vĩ lư) đoạn
xoay trở lại đưa tay lên theo đường cung song song với tay trái; chân phải bước
tới sát chân trái, thở ra và hạ song chưởng xuống. như hình 52 đến 57.
Kế, chân phải tiến lên hít vào, đưa song chưởng lên, co tay trái, quay đầu qua
trái nhìn xuống mông vĩ lư, quay lại đưa tay trái lên song song với tay phải,
chân trái bước tới chân phải, hạ tay xuống, thở ra. Gọi là Hữu thức. phải làm
liên lạc các động tác như kéo dây thun, chỉ dừng ở chỗ cao điểm 8 giây đồng hồ.
Phải cực uyển chuyển, chẳng thể làm như người máy.
5. - Dâng Đào Thế
... tiếp theo thức trên. Khuỵu hai gối xuống, song chưởng ấn xuống, ra sau, thở
ra như Hình 58-59, chân trái nhảy tới chân phải nhảy theo sát chân trái, mủi bàn
chân chạm trước kế gót xuốn sau, song chưởng co bạt về sau, đoạn đưa lên trước
theo đường dợn sóng, hai cánh tay song song nhau, rồi đưa lên nhưng gối hơi co,
hít vào như hình 59-60-61. Làm lại từ đầu với chân phải nhảy tới trước...
Hổ Hí
YẾU LĨNH: Dũng mãnh cương tay, kỵ sợ hãi.
Hổ là chúa Sơn Lâm, tập Hổ hí phải biểu dương thần thái này. Như thần phát ở
mặt, uy phải ở trảo (ngón tay), thần uy bức nguwòi, hét gầm làm kinh người. Dùng
sức trong cương có nhu. Động tác khi động làm như gió bão, khi tịnh, yên như mặt
trăng in đáy nước. Luyện Hổ thức sẽ tăng cường thể lực thấy rõ. Luyện Hổ hí, hít
vào bằng miệng ngậm hơi gió qua kẻ răng, thở ra hả miệng nhỏ có tiếng "khè" hay
"Há". Ý đặt ở Huyệt Mệnh Môn sau eo lưng (xem bản đồ Huyệt Thiếu Lâm Tự) (còn
gọi là Hậu Đơn điền huyệt). Ý thủ (trụ) nơi Mệnh môn tăng cường xương cốt, bổ
tĩnh và làm động khí giữa Thận.
Nên luyện Hổ Hùng đi đôi vì Hổ chú trọng Cương lực, Hùng như lực, Hùng bổ Tỳ Vị,
Ý thủ ở Đan điền. Phải hợp được động tác Hổ Hùng thì hoàn toàn tốt đẹp vậy.
1. - Hổ Bộ Thế
Thực hành thức chuẩn bị xong, chân trái đưa về sát chân phải, rồi cả hai bàn
chan đồng xoay về hướng trái, gối rùn xuống, song chưởng biến thành song hổ trảo
(các ngón xòe ra và co lại) đồng thời co chỏ, mắt nhìn bằng tới trước, thở ra;
chân trái tiếp bước lên hướng trước nửa bước như hổ bộ (cọp đi, cả hai chân cong
cong không thẳng) hai bàn tay bấu mạnh xuống hai bên đùi, chân cũng bấu các đầu
móng chân xuống đất, chăm chú 8 giây đồng hồ rồi chân phải bước tới sát chân
trái, hít hơi vào, thân thể và tứ chi buông lỏng, như hình 62 đến 65.
Kế, chân phải bước tới trước, hai trảo bấu xuống, chân bấu... tập lại thức trên
từ đầu tới cuối gọi Hữu thức.
2. - Phát Uy Thế
... tiếp theo thức trên. Hai trảo cào về sau một cái ngang thắt lưng thở ra kêu
tiếng "Há", chân trái bước tới một bước, chân trước co xuống, thân trên hơi chồm
tới cho mặt và gối ngay nhau, vai và lưng nhô lên, mắt nhìn bằng tới trước song
trảo ấn xuống đồng thời hít hơi vào qua kẽ răng. Chân phải bước tới sát chân
trước, co nhón gót như hình 66-67-68.
Kế, chân phải bước tới, bộ dạng giống như thức vừa tập trên từ hình 66-68, gọi
là Hữu thức.
3. - Xuất Động Thế
... tiếp theo trước. Song trảo xoay ra ngoài rồi quàu tới (chụp, bấu) một cái
xong co chỏ để song trảo cao ngang thắt lưng như hình 69. Thở ra, miệng mở vuông
hình chữ Tứ, phát ra trong "Há" . Chân trái bước tới trước một bước, gối cong
xuống thành Hổ bộ, thân trên chồm tới, eo lưng vươn lên, song chưởng trảo từ
trong bấu ra ngoài một cái rồi trở về vị trí cũ, hít hơi vào qua kẻ răng, chân
bấu xuống đất (bấu bấu vài lần), chân sau phải bước tới sát chân trước, hai tay
thuận thế bấu xuống một cái như hình 70-71.
Kế, chân phải bước tới, bấu bấu giống như thức vàu diễn gọi là Hữu thức.
4. - Phốc Án Thế
... tiếp theo thức trên. Hai bàn tay quàu ra hai bên một cái rồi thu về vị trí
bên hông, thở ra có tiếng "Há". Chân trái bước tấn tới thành Hổ bộ, thân trên
chồm tới, eo lưng vươn lên, đồng thời song hổ trảo "vớ" tới truwóc thấp hơn vai
như hình 73. Xong cào trở xuống vị trí cũ, hít vào qua kẻ răng, chân phải cũng
bước tới sát chân trái, xã kình đúng như hình 74. Mắt nhìn bằng tới trước có uy
(tức nhìn có hàm ý phát uy).
Kế chân phải bước tới hổ bộ sau khi hai tay đã quàu vòng hai bên bàng cổ tay...
làm giống y như trên, gọi là Hữu phốc Án thế (hình 72-74 chỉ đổi chân).
5. - Hổ Đấu Thế
... tiếp theo thức trước. Hai trảo xoay cổ tay quàu về một cái rồi trở lại vị
trí cũ, nâng thắt lưng lên (nhón người lên) thở ra có tiếng "Há", chân trái bước
thành Hổ bộ, cằm thu vào gần cổ, trụy mông xuống nhưng eo lưng cố vươn lên, thóp
bụng. Song trảo đồng lúc vớ (vồ) tới, từ trong ra tay trái ngoài tay phải trong,
trảo cao ngang vai, trảo tâm hướng tới trước, trảo phải ngang ngực ngay giữa
ngực như hình 76. (Vồ thật mạnh như cọp vồ mồi). Dồn sức nơi trảo tâm giữ đây 8
giây, hai chân bấu càu càu xuống đất (mang giày cũng cứ càu các ngón trong giày,
tưởng như đang xàu xuống đất) đồng thời hít hơi vào, chân phải bước len sát chân
trái, mũi bàn chân chấm đất, gót nhô lên, song trảo quay về hai bên mông, gối
chân co xuống tự nhiên như hình 77. Mắt nhìn bằng tới trước có uy.
Kế, song trảo quàu ra hai bên, chân phải bước tới... làm lại từ đầu thức trên
như hình 75 đến 77, chỉ khác bên, gọi là Hữu Hổ Đấu Thế.
Điều quan trọng nên lưu ý là quàu tay hổ trảo lực dần ra ngón tay, vận dụng cổ
tay, các ngón cong cong như móng cọp, chân quàu quàu xuống đất như cọp cào đất.
Ý định phát lực ra ngón tay và ngón chân. Vồ tới mau và mạnh như cái chụp của
con cọp đấu nhau vậy. Toàn bộ Hổ trảo này nếu được tập thêm Điểm Pháp của Thiết
Sa Chưởng thì mỗi cái vồ đến chết người.
Hầu Hí
YẾU LĨNH: Cơ cảnh, mẫn tiệp, kỵ thế cứng đơ.
Vượn, tính thích động, leo trèo nhảy nhót linh hoạt. Khi luyện Vượn động (Viên
hí) phải mô phỏng theo tính thiên động của nó, động trung hữu tĩnh, tức bên
ngoài động mà bên trong tinh thần yên tĩnh. Luyện vượn hí hít hơi từ từ qua kẻ
răng và thở ra bằng miệng hé mở như thổi hơi sương rất nhẹ từ tốn. Ý thủ ở Đan
điền như Hùng Hí. Viên hí luyện thần, luyện giỏi tốt thần an tịnh mà thân linh
hoạt vô cùng.
1. - Viên Bộ Thế
Thực hành thế chuẩn bị xong, đúng như hình 78, song chưởng các ngón để rời không
vận lực. Khép chân trái vào sát chân phải rồi chuyển hướng qua hướng trái, hai
đầu gối co xuống hơi hơi, song chưởng co về sau như hình 79. Chân trái bước tới
hướng trước, hsit vào qua kẻ răng, chân trái chạm nhẹ mũi bàn chân xuống đất,
gót nhón lên, chân sau hơi khuỵ xuống thành tọa cung bộ, cằm thu về gần cổ, rút
cổ, nhún vai rồi hạ xuống liền, mắt nhìn bằng tới trước thở ra. Chân phải bước
tới sát chân trái nhón gót, hạ song chưởng xuống hai bên đùi như hình 81. Xem
hình 78 đến 81.
Kế, song chưởng phủi ra sau, chân phải bước tới... làm lại từ đầu như hình
78-81, gọi là Hữu thức. Quan trọng là phải giữ cổ tay và bàn tay thật nhẹ nhàng
linh động không hề có chút sức nào, lực trong bàn tay như sợi tơ nhỏ, có mà như
không, chân cũng linh động, thân ở yên dưới Đơn điền.
2. - Vọng Lộ Thế
... tiếp theo thức trên. Hít hơi qua kẻ răng, song chưởng phủi nhẹ (câu) ra sau
như hình 82, chân trái bước tới truwóc nửa bước, chạm mũi bàn chân xuống mặt
đất, co bộ khỉ đi, chưởng trái đưa vào trước bụng rồi đá lên trên trước trán cao
hơn mắt, lòng chưởng úp xuống, mắt nhìn thẳng tới trước nhưng liếc qua liếc lại
thấy cả hai bên, như hình 83, trong lúc chẳng phải đưa về sau một chút, thở ra
qua kẻ răng (môi hở hé). Đoạn chân phải bước tới nhón gót kế chân trái, chưởng
trái hạ xuống bên đùi, chưởng phải cũng trả lại như hình 84. Sức lực hư không
gọi là hư chưởng.
Kế, chân phải tiến lên, chưởng trái biến thành câu nhẹ (chưởng khép các ngón tay
lại) ra sau, tay phải để lên trước trán, mắt nhìn tới như dò đường (vọng lộ)...
tập như hình 82-84 gọi là Hữu thức.
3. Hiến Quả Thế
... tiếp theo thức trước. Hít hơi vào qua kẻ răng, chân trái bước tới trước
thành hầu bộ, song câu biến thành song chưởng từ duwói xoay ngửa nâng lên cao
ngang mắt, chỏ co, như hình 85-86 (giống kẻ bề tôi ngày xưa dâng của lên bề
trên) thân rùn xuống, ngẩng mắt nhìn khoảng giữa hai bàn tay, ngưng 8 giây, rồi
thở ra qua kẻ răng có tiếng "hài" hay hải". Xong chân phải bước tới sát chân
trái, song chưởng từ trên cao xoay cổ tay hạ (khều, quàu) nhẹ xuống hai bên đùi
như hình 87.
Kế, chân phải tiến lên... hít hơi... làm lại từ thức trên từ đầu, gọi là Hữu
thức. Nhớ chân tay cùng lúc, nhịp nhàng, thở từ từ điều nhuận.
4. - Trích Đào Thế
... tiếp theo thức trên. Mím môi tròn nhỏ hít hơi vào qua kẻ răng (ghe mắt),
chưởng câu ra sau mông một tí như kình 88. Chân trái bước tới thành hầu bộ, song
câu từ sau, dưới đưa lên thành chưởng, trái cao, trước, phải sau, thấp, lòng
chưởng đều hướng tới trước như rứt trái cây vậy; hai chưởng một trên một dưới
nhưng rất gần nhau như hình 89. Thở ra chân phải bước tới sát chân trái, co gối
song chưởng hạ xuống hai bên đùi như hình 90. chân phải tiến lên, song chưởng
thò tới... như hình 89... tức là làm lại từ đầu thức trên, gọi là Hữu thức.
5. - Đào Tàng Thế
... tiếp theo thức trên. Hít hơi vào, câu chưởng ra sau như hình 91, chân trái
bước tới mạnh hầu bộ, chưởng câu phải quơ vòng vẹt bên phải theo mũi tên hình vẽ
mắt ngó về sau vai phải, chưởng trái quơ vòng từ ngoài lên vòng trở vô trước
ngực, chưởng tâm chiếu vào trước ngực, như hình 92 (giống khỉ vạch cành cây để
trốn lánh người). Thở ra, chân phải bước tới sát chân trái, co gối, song chưởng
câu quơ vào trước bụng (rún) rồi đè (ấn) nhẹ xuống trước, mũi song chưởng song
nhau, mắt nhìn tới trước, hai gối co xuống khum khum. Hình 93.
Kế, chân phải bước tới thành Hầu bộ, tay trái vẹt thấp, tay phải quơ cao mắt
nhìn bên vai trái... như thức vừa học, gọi là Hữu thức.
Động tác linh động, cổ xoay qua xoay lại, mắt linh động liếc qua liếc lại. Ý đặt
tại Đan điền. Phải thực hành cho đến khi linh hoạt mới thấu đáo cái Ý của bài
tập này.