XẠ HƯƠNG
– VỊ THUỐC QUÝ HIẾM
Tác giả : DS. ĐỖ HUY BÍCH
Xạ hương được lấy từ túi
thơm của con hươu xạ, tên khoa học là Moschus
berezovski Flerov (chỉ con đực mới có). Hươu
xạ là một động vật nhỏ không sừng, có
bộ lông dày, màu nâu hung hoặc nâu sẫm pha xám
sống hoang dã ở vùng rừng núi, chủ yếu trên các
dãy núi đá vôi lởm chởm, dốc đứng cheo
leo, có độ cao từ 1.000-2.000m, có khi hơn.
Phân bố, đặc tính và công dụng
Hươu
xạ phân bố ở Liên Xô trước đây, Trung
Quốc, Mông Cổ, Triều Tiên, Nepal, Mianma, Ấn Độ,
Lào, Campuchia. Ở Việt Nam, hươu xạ có ở Cao
Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn… Hươu xạ
trưởng thành của Việt Nam chỉ đạt
trọng lượng khoảng 15kg, trái lại ở Liên Xô
trước đây và Trung Quốc, nó có thể nặng
đến 40kg.
Người ta săn bắt hươu xạ quanh năm,
trừ mùa chúng sinh đẻ vào tháng 3-5. Khi bắt
được hươu xạ, người ta cắt ngay
lấy túi thơm (túi này nằm ở khoảng giữa
rốn và cơ quan sinh dục của con đực),
bỏ phần da thịt thừa, phơi trong râm mát cho khô,
hoặc bọc túi thơm trong giấy hút ẩm rồi
treo hong khô ở chỗ thoáng gió. Có khi người ta còn
cho túi thơm vào cát nóng và làm như vậy nhiều
lần cho đến khi khô. Sau đó, cắt sửa lông
ở mép túi, rồi bảo quản bằng nhiều
lớp vải mềm, đặt trong lớp kín. Khi dùng,
lấy khăn vải tẩm ướt bằng nước
ấm, bọc kín túi thơm cho mềm, rồi cắt túi
lấy chất xạ, nghiền cho thật nhỏ, mịn.
Túi xạ có hình cầu, hình bầu dục, tròn hoặc
dẹt, đường kính 3,5-6cm, nặng 30-60g tùy theo
tuổi của hươu. Miệng túi hơi phẳng, có
nhiều lông mịn áp sát, màu trắng hoặc nâu xám,
mọc rất xít nhau thành hình khoáy, ở giữa có
một lỗ nhỏ, đường kính 5mm, khi cạo
sạch lông, phần da ở đó có màu nâu. Mặt ngoài
của túi nâu đen, không có lông, có tính co giãn. Nếu
cắt mổ túi sẽ thấy lớp màng da ở
giữa trong suốt, màu tro bạc, lớp màng da ở
trong màu đỏ nâu. Trong cùng là chất xạ ở
dạng quánh đặc như sữa, khi khô thành bột
hoặc thành hạt lổn nhổn với kích thước
không đều, bóng, có mùi thơm hắc rất đặc
biệt, để lâu không mất mùi. Ở dạng
bột, dược liệu màu vàng nâu, nâu đỏ hay
đỏ tím, chất mềm có dầu. Lấy tay vê tròn,
bột tụ lại nhưng không dính vào nhau thành
khối. Khi mở tay ra, bột lại tã rời ngay. Ở
dạng hạt (tốt hơn), hình tròn hay dẹt, phần
lớn có màu đen tím, có vân mỡ sáng bóng. Xạ hương
nguyên chất có mùi thơm hắc rất mạnh, bền,
pha loãng thì có mùi thơm dịu, rất dễ chịu.
Trộn với camphor, valerian, tinh dầu trám, acid hydrocyanic,
xạ hương sẽ mất hết mùi đặc trưng
của nó.
Trên thế giới, túi xạ được ưa
chuộng nhất lấy từ hươu sống ở Tây
Tạng, Trung Quốc và Đông Dương. Số lượng
của loại xạ này chiếm tỷ lệ từ 80-85%
tổng lượng cung cấp trên toàn thế giới. Riêng
thị trường phương Tây, hàng năm tiêu
thụ khoảng 10 vạn túi xạ. Mỗi kg túi xạ
trị giá từ 1.000-1.500 USD và 1kg chất xạ hương
nguyên chất trị giá hơn 80.000 USD.
Xạ hương thường được dùng riêng
ở dạng nguyên chất hoặc chế biến với
đinh hương theo cách làm sau: Lấy túi xạ đốt
lửa cho cháy hết lông, cắt làm 5-6 mảnh, cho vào
một lọ rộng miệng cùng với 20g đinh hương
đã tán bột. Nút thật kín, lắc đều. Để
khoảng 3 - 4 tháng mới dùng. Hỗn hợp bột
xạ hương, đinh hương có thể bảo
quản trong 5 - 6 năm (kinh nghiệm gia truyền của ông
Vũ Dương Đào - Hòa Bình).
Vì là dược liệu quý hiếm nên xạ hương
thường bị giả mạo bằng cách trộn
với bột các loại hạt đậu, mì, nhất là
hạt cây vông vang (Abelmoschus moschatus (L) lledic) vì hạt này
cũng chứa chất có mùi xạ hương.
Phân biệt xạ hương thật, giả
Lấy ít xạ hương cho vào bát nước nóng,
thấy tan ngay, không có cặn, dung dịch có màu vàng
nhạt, mùi thơm nồng nặc. Cho xạ hương vào
lửa thấy nổ lách tách, lóe sáng, mùi thơm
mạnh, sau để lại những nốt dầu trong.
Xạ hương chứa tinh dầu có thành phần
chủ yếu là muskon, 1-ceton: 3-methyl cyclopentadecanon, với
tỷ lệ 0,5-2%. Chất này có mùi đặc trưng
của xạ hương. Ngoài ra, còn có chất béo,
chất nhựa, chất nhầy, cholesterin và protein.
Xạ hương là một hương liệu cao cấp,
chất định hương trong việc sản xuất
nước hoa, xà phòng thơm, bột chống nhậy;
Đồng thời là vị thuốc quý hiếm được
dùng trong y học hiện đại và y học cổ
truyền. Trước đây, y học hiện đại
dùng xạ hương làm thuốc kích thích, cường dương,
điều kinh dưới dạng cồn thuốc,
thuốc viên hoặc thuốc thụt. Trong Đông y,
xạ hương được xem là vị thuốc quý
được dùng phổ biến với vị cay, tính
ấm, không độc, có tác dụng khai khiếu,
hoạt lạc, tán ứ, tiêu viêm, kích thích, giảm đau,
giải độc… chữa suy nhược thần kinh, trúng
phong, kinh giãn, mê sảng, tổn thương do ngã hoặc
bị đánh, đau mắt, đau thắt tim, cam tẩu
mã. Liều dùng hàng ngày: 0,04-0,10g. Xạ hương ít khi
được dùng riêng mà thường phối hợp
với những vị thuốc khác như trong biệt dược
nổi tiếng “Lục thần hoàn” và “nhân
đơn”.
Dùng ngoài, xạ hương đem nghiền nhỏ,
tẩm nước rồi bôi hoặc đắp có tác
dụng giảm đau, tiêu sưng. Tuệ Tĩnh (Nam dược
thần hiệu) đã dùng xạ hương trộn
với bột quả trám đốt thành than, rồi bôi
xỉa, chữa đau răng, sâu răng.
Theo kinh nghiệm đồng bào ở vùng núi cao, xạ hương
lấy khoảng vài gam phối hợp với quả
hồi 5-6 cánh, cỏ xước 30g, diêm sinh 0,4g phơi khô,
giã nhỏ, trộn đều, cho vào túi vải rồi
buộc vào rốn, ngay cả lúc giao hợp để làm
thuốc ngừa thai.
Theo tài liệu nước ngoài, ở Trung Quốc, trong các
sách cổ, còn lưu truyền một loại thuốc dưỡng
da cung đình để giữ sắc đẹp cho Từ
Hy Thái Hậu. Thuốc gồm xạ hương 0,4g,
bạch cương tàm 1,6g, băng phiến 0,8g, sơn tra
1,6g, đậu xanh 2,4g. Tất cả nghiền thành bột
mịn, nhào với nước đánh thật nhuyễn như
kem, dùng bôi (Theo sách “Từ Hy Quang Tự y phương
tuyển nghị” đời nhà Thanh) và bài thuốc
chữa đau thắt tim gồm xạ hương tán
nhỏ, dùng mỗi lần 0,03-0,10g dưới dạng hoàn
tán.
Lưu ý: Phụ nữ có thai không được
tiếp xúc với xạ hương.